Tin tức

Tuổi mắc đái tháo đường ngày càng trẻ Tuổi mắc đái tháo đường ngày càng trẻ “Hãy kiểm soát đái tháo đường ngay từ bây giờ”. Đó là thông điệp nhân...
Tại sao cần kết hợp Đông Tây y trong điều trị bệnh tiểu đường? Tại sao cần kết hợp Đông Tây y trong điều trị bệnh tiểu đường? Kết quả ghi nhận qua nhiều công trình nghiên cứu lâm sàng cho thấy việc ứng...
Tin vui cho bệnh nhân tiểu đường Tin vui cho bệnh nhân tiểu đường Theo các chuyên gia, cho tới lúc này bệnh tiểu đường vẫn là một căn bệnh mà...
Phát hiện mới về cơ chế đái tháo đường type 2 ở người béo phì Phát hiện mới về cơ chế đái tháo đường type 2 ở người béo phì Các nhà khoa học ĐH California mới đây đã giải mã cụ thể được tại sao một...
Những lưu ý cho bệnh nhân đái tháo đường trong ngày Tết Những lưu ý cho bệnh nhân đái tháo đường trong ngày Tết Để phòng tránh những trục trặc không đáng có, đảm bảo niềm vui đón xuân...
Hơn 60% người bị đái tháo đường không biết mình mắc bệnh Hơn 60% người bị đái tháo đường không biết mình mắc bệnh Sau 1 lần cắt lẹm móng chân, chân bà Nguyễn Thị Phan (60 tuổi, TPHCM) trở nên...
80% người bị đái tháo đường tử vong vì biến chứng tim 80% người bị đái tháo đường tử vong vì biến chứng tim Nhập viện trong tình trạng nguy kịch vì nhồi máu cơ tim, bà Nguyễn Thị Hoa, 56...

Thống kê truy cập

Hiện có 4 khách Trực tuyến

Insulin trong điều trị bệnh đái tháo đường

Xem kết quả: / 47
Bình thườngTuyệt vời 

Insulin là một nội tiết tố của cơ thể, có khả năng làm hạ đường máu bằng cách giúp đường máu vào trong tế bào để sản xuất ra năng lượng cung cấp cho mọi hoạt động của cơ thể.

Insulin được tế bào bê-ta của đảo tụy Langerhans tiết ra. Việc bài tiết insulin của cơ thể phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó sự thay đổi đường máu có vai trò quan trọng. Khi bạn bị mắc bệnh đái tháo đường, tức là khả năng bài tiết insulin của cơ thể giảm hoặc không còn, làm cho đường máu tăng cao.

Nguồn gốc các loại Insulin

Nguồn gốc động vật: Từ tụy của bò hay lợn, có khác biệt một chút về cấu trúc so với insulin của người. Ngày nay loại insulin này được tinh chế bằng phương pháp sắc ký đạt độ tinh khiết hóa rất cao.
Insulin người: Được sản xuất từ insulin động vật qua các phương pháp:
* Bán tổng hợp từ insulin lợn.
* Tái tổ hợp gen: là loại insulin trung tính đơn thành phần, được sản xuất bằng kỹ thuật tái tổ hợp AND, sử dụng nấm men làm cơ thể sinh sản đạt đến độ tinh khiết hóa và chất lượng cao nhất, có cấu trúc giống hệt như insulin tự nhiên của người, do vậy ít tạo kháng thể và thời gian tác dụng ngắn hơn.

Các loại Insulin
Insulin tác dụng nhanh

Đặc tính: trong suốt, có thể dùng bằng tất cả mọi đường tiêm: tĩnh mạch, dưới da, tiêm bắp và dùng được trong mọi tình huống. Insulin có tác dụng sau khi tiêm 15 – 20 phút, có tác dụng cực đại sau 2 -4 giờ, hết tác dụng sau 6 – 8 giờ.
Lưu ý: khi dùng insulin tiêm dưới da thì insulin có tác dụng nhanh hơn và ngắn hơn nếu như vùng tiêm có tăng hoạt động thể lực (đùi nếu như tập chạy, cánh tay nếu như chơi tennis và bụng nếu như bơi thuyền…).

Ưu điểm:

- Là loại duy nhất dùng trong cấp cứu do tác dụng hạ đường huyết nhanh chóng.
- Có thể trộn lẫn với insulin chậm tùy theo mục đích và nhu cầu điều trị.
- Có thời gian tác dụng ngắn và mạnh để làm giảm đường huyết sau khi ăn.

Nhược điểm : Thời gian tác dụng ngắn nên phải tiêm nhiều lần trong ngày (4 mũi tiêm dưới da, thực tế không dùng riêng insulin tác dụng nhanh để điều trị mà phải kết hợp thêm insulin tác dụng bán chậm hoặc chậm).

Insulin tác dụng bán chậm (dịch tiêm đục như sữa)

Để làm giảm bớt số lần tiêm trong ngày, người ta đã sản xuất ra loại insulin có tác dụng dài hơn gồm 2 loại insulin là NPH (Neutral Protamine Hagedorn) hay IZS (Insulin Zinc Suspension) hay lent để sử dụng trong chế độ điều trị với 2 hay 3 mũi tiêm trong ngày.

1. Loại insulin NPH: Bắt đầu tác dụng sau 1 giờ. Tác dụng mạnh nhất sau 4 – 8 giờ.
Hết tác dụng sau 14 – 18 giờ. Với loại insulin này thì các điểm gắn kết insulin của protamin đã bão hòa nên loại insulin này có thể dùng trộn lẫn với insulin nhanh.
Tuy nhiên nhược điểm của loại insulin này có thể gây ra loạn dưỡng mỡ nơi tiêm (hiếm gặp).

2. Loại insulin IZS (insulin kẽm): Thời gian tác dụng có thể từ 6 – 36 giờ tùy theo cách thức sản xuất.

Ưu điểm: của các loại insulin tác dụng trung bình là có nhiều loại với thời gian tác dụng khác nhau tùy thuộc vào yêu cầu điều trị và sự thuận lợi của bệnh nhân.
Nhược điểm: có thể gây đau khi trộn với insulin nhanh.

Insulin trộn sẵn (dịch tiêm đục như sữa)

Là loại insulin trộn lẫn giữa 2 loại nhanh và trung bình theo tỷ lệ nhất định.
- Có tỷ lệ 30% insulin nhanh và 70% insulin trung bình.
- Có tỷ lệ 50% insulin nhanh và 50% insulin trung bình. Ngoài ra còn tiến hành trộn theo những tỷ lệ khác mà trong đó loại nhanh chiếm 10- 20- 40%.
Đặc tính: cùng lúc có 2 tác dụng là nhanh do loại nhanh đảm trách và kéo dài do loại trung bình đảm trách.
Với người ăn nhiều tinh bột đường thì thích hợp với loại trộn 40-50% nhanh.
Phần lớn bệnh nhân dùng loại trộn 30% nhanh.
Một vài người có khuynh hướng hạ đường huyết giữa các bữa ăn nên dùng trộn 10 – 20%.
Ưu điểm: tiện dùng, phù hợp hơn với sinh lý mà không đòi hỏi phải tự trộn lấy liều khi dùng riêng từng loại nhanh chậm.
Nhược điểm: vì tỷ lệ pha trộn là cố định nên khó điều chỉnh cho phù hợp với từng tình huống cụ thể: ăn bữa no nếu tăng liều cả insulin nhanh và chậm sẽ gây hạ đường huyết muộn. Trong khi lẽ ra chỉ tăng từ 2 đến 6 đơn vị loại insulin nhanh.

Insulin tác dụng chậm (dịch tiêm đục như sữa)

Đặc tính: là loại insulin có kết hợp với kẽm, chia làm 2 nhóm chính.

Nhóm 1: loại tác dụng 24 giờ.
Nhóm 2: loại tác dụng 36 giờ.

Ưu điểm: Chỉ cần một mũi tiêm có tác dụng trong cả 24 giờ trong ngày.

Có thể dùng trong kỹ thuật 4 mũi tiêm/ ngày, 3 mũi nhanh vào trước các bữa ăn và một mũi vào lúc đi ngủ (22 giờ)

Nhược điểm: Tại chỗ: đỏ, đau nơi tiêm.
Hạ đường huyết không lường trước do tác dụng kéo dài chồng chéo với các mũi tiêm khác. Thường không làm giảm được đường máu sau ăn do thời gian hấp thu vào máu chậm

Ai cần được điều trị bằng Insulin

Bệnh nhân đái tháo đường týp 1,
Bệnh nhân đái tháo đường thai nghén,
Đái tháo đường týp 2 ở những giai đọan đặc biệt:

Đái tháo đường týp 2 thể không béo,

Có bệnh lý gan, thận chống chỉ định với thuốc uống hạ đường máu,

Đái tháo đường týp 2 đang mắc các bệnh nhiễm trùng cấp tính, phải phẫu thuật…,

Thất bại trong việc kiểm soát đường máu với thuốc viên.

Tiêm Insulin an toàn bằng cách nào?

Nếu bạn là bệnh nhân ĐTĐ và đang phải tiêm Insulin nhưng lại không hiểu rõ về phương pháp điều trị này thì sau đây là các cách giúp bạn cải thiện kỹ thuật tiêm và phòng ngừa các biến chứng hay xảy ra sau khi tiêm.

Các vị trí tiêm Insulin là gì? Vị trí nào là tốt nhất?

Vùng bụng (dưới da quanh rốn): hấp thu nhanh nhất,
Vùng bắp tay (mặt ngoài cẳng tay): hấp thu trung bình,
Vùng mông và đùi : hấp thu chậm nhất,

Nếu đường huyết không ổn định, bạn nên tiêm vào một vùng nhất định và tốt nhất là vùng bụng nhưng nên xen kẽ bên phải, bên trái tránh gây ra phản ứng tại vùng tiêm.

Bệnh nhân cũng nên thay đổi vị trí tiêm và không nên trà xát, xoa bóp hay vận động mạnh sau khi tiêm ở cẳng tay và đùi.

Kỹ thuật tự tiêm Insulin

·  Khi kê đơn điều trị Insulin, thường thì các bác sỹ sẽ yêu cầu bệnh nhân ĐTĐ phải tự học tiêm Insulin. Phương pháp phổ biến nhất hiện nay là tiêm Insulin bằng bơm (loại 1 hoặc ½ ml) và kim tiêm. Đầu tiên bạn phải rút Insulin ra khỏi lọ thuốc, sau đó tiêm vào dưới lớp da của bạn (vì thế gọi là tiêm dưới da), và từ đó Insulin sẽ được hấp thu vào dòng máu.

· Về lý thuyết, Insulin có thể được tiêm vào bất cứ vùng nào của cơ thể mà ở đó có một lớp mỡ dưới da và không có các mạch máu, dây thần kinh lớn, cơ và xương ở xung quanh. Tuy nhiên chỗ tiêm tốt nhất là vùng bụng vì đó là vị trí mà Insulin hấp thu nhanh và ổn định. Lưu ý là tránh tiêm vào vùng cách rốn chừng 2 cm vì Insulin sẽ không được hấp thu tốt. Bạn cũng cần quay vòng vị trí tiêm để tránh các mũi tiêm quá gần nhau trong một thời gian ngắn có thể gây loạn dưỡng tại chỗ tiêm.

Các hiện tượng kích ứng da tại chỗ tiêm

· Những lần tiêm đầu tiên, bạn có thể thấy da chỗ tiêm bị đỏ và sưng nề nhẹ, đó có thể là do Insulin không tinh khiết hoặc do khi tiêm đã đẩy một lượng cồn nhỏ vào mô dưới da. Để tránh hiện tượng này cần sát trùng bằng cồn trước, đợi khô rồi mới tiêm.

· Nếu chỗ da bị kích ứng kéo dài trên 2 tuần hoặc bạn thấy khó chịu, đau thì phải báo ngay cho bác sỹ của bạn.

·   Một hiện tượng khác là sau khi tiêm bạn thấy đau buốt tại vùng tiêm. Để giảm thiểu hiện tượng này, bạn hãy :

Lấy lọ Insulin ra khỏi tủ lạnh trước 15-20 phút, xoa nhẹ bằng 2 lòng bàn tay trong vài phút trước khi tiêm để lọ thuốc có nhiệt độ ngang bằng nhiệt độ phòng.

Thả lỏng các cơ tại vùng tiêm

Đâm kim nhanh qua da

Đâm thẳng kim, không đổi hướng kim sau khi đã chọc qua da.

·        Sau một thời gian tiêm một số người thấy vùng tiêm bị lồi lõm, dày lên hoặc nổi cục. Đó có thể là các biến chứng tại chỗ tiêm như teo đét hoặc phì đại tổ chức mỡ dưới da, thường là hậu quả của tiêm không đúng kỹ thuật. Khi đó không nên tiêm vào các vùng này vì Insulin sẽ không được hấp thu tốt. Để hạn chế hiện tượng này, cần tuân thủ hướng dẫn quay vòng vị trí tiêm hoặc đổi chỗ tiêm giữa bụng – đùi - cánh tay…

Ngăn ngừa các vấn đề khác xảy ra sau khi tiêm Insulin

Tiêm Insulin đã quá hạn hoặc Insulin bị nhiễm bẩn có thể làm đường máu tăng cao hoặc gây nhiễm trùng tại vị trí tiêm. Để giảm thiểu nguy cơ bị các hậu quả xấu của tiêm Insulin các bạn cần:

·        Duy trì tiêm Insulin của cùng một nhà sản xuất trừ khi thầy thuốc khuyên bạn nên đổi. Điều này giúp bạn có được Insulin cùng nguồn gốc, cùng chủng loại và nồng độ. Phải nhớ kiểm tra hạn dùng và luôn có sẵn một lọ dự trữ.

·        Cất giữ Insulin trong tủ lạnh cho tới khi đem ra dùng. Nhiệt độ bảo quản tốt nhất là 2 – 8oC. Tuy nhiên ở nhiệt độ 25oC, thuốc có thể ổn định từ 24 – 36 tháng. Do vậy, nếu không có tủ lạnh thì nên để Insulin ở nơi khô ráo và mát, tránh ánh nắng và nơi có nhiệt độ cao. Nếu để trong tủ lạnh thì không được để vào ngăn đá.

·         Trước khi tiêm phải làm ấm lọ Insulin lên ngang nhiệt độ phòng ở vì tiêm Insulin lạnh sẽ gây đau tại chỗ tiêm. Lọ Insulin, sau khi đã mở nắp, có thể giữ được trong nhiệt độ phòng trong khoảng 6 tuần. Nên vứt bỏ các lọ Insulin quá hạn hoặc lọ Insulin đã để ngoài tủ lạnh trên 6 tuần.

·        Không để trong môi trường quá nóng hoặc tiếp xúc trực tiếp với ánh sáng mặt trời.

·        Quan sát mọi sự thay đổi của lọ thuốc, vứt ngay các lọ bị đổi màu hoặc có vẩn đục.

·        Đánh dấu vào lọ Insulin đang dùng. Ngoài ra bạn cũng nên có một cuốn sổ nhỏ ghi rõ tên và điện thoại của bác sỹ điều trị cùng tên tất cả các loại thuốc bạn đang dùng. Mục đích là để phòng khi bạn bị hạ đường hyết thì các thầy thuốc và người nhà của bạn biết cách xử trí nhanh và phù hợp nhất.

·        Khi đi khám bệnh khác, phải thông báo với các thầy thuốc rằng bạn đang phải tiêm Insulin để các thầy thuốc không kê cho bạn dùng những loại thuốc có tương tác hoặc ảnh hưởng đến tác dụng của Insulin.

·        Kiểm tra thường xuyên tủ thuốc. Trước khi dùng bất cứ loại thuốc nào cũng cần đọc kỹ hướng dẫn sử dụng. Nếu bạn phát hiện có khuyến cáo là không nên dùng các thuốc này cho người bệnh ĐTĐ thì nên xin ý kiến của bác sĩ chuyên khoa của bạn.

·        Cảnh giác với dị ứng thuốc: Mặc dù rất hiếm xảy ra nhưng Insulin có thể gây ra phản ứng dị ứng, nguy hiểm nhất là sốc phản vệ giống như tất cả các loại thuốc khác. Các biểu hiện thường gặp là mệt và khó thở, đau ngực… nhưng ít khi gây tử vong.

Tóm lại, nếu tuân thủ đúng những chỉ dẫn của htầy thuốc thì bạn sẽ thấy tiêm Insulin không quá khó và cũng chẳng hề phiền toái chút nào. Nếu bạn thấy thực sự chưa hiểu rõ hoặc còn băn khoăn về cách tiêm Insulin thì hãy hỏi ngay các thầy thuốc để được trợ giúp. Bằng cách này bạn có thể đạt hiệu quả điều trị tốt nhất và an toàn tuyệt đối.

Một số dạng bào chế khác của Insulin

Insulin dạng xịt đường miệng (buccal insulin)

Đây là dạng thuốc đang được nghiên cứu rất nhiều. Về nguyên lý, sau khi được xịt vào trong miệng, insulin sẽ được hấp thu vào mô ở thành sau miệng và họng. Thách thức của phương pháp này là rất khó tính được liều insulin tối ưu. Tại hội nghị Hội nghiên cứu ĐTĐ châu Âu - tháng 9/2005, Công ty Generex Biotechnology đã thông báo kết quả một thử nghiệm lâm sàng nhỏ điều trị insulin dạng xịt được tiến hành trên 10 BN ĐTĐ týp 1. Theo dõi trong 12 ngày, kết quả cho thấy hiệu quả kiểm soát đường máu giữa insulin tiêm (humulin) và insulin xịt miệng là tương đương nhau. Tuy nhiên, theo công ty này, mục đích của thử nghiệm này chỉ để xác định liều lượng và dạng thuốc xịt cho một thử nghiệm đa trung tâm lớn hơn. Mới đây công ty này thông báo rằng thuốc insulin xịt của họ có tên là oral-lyn đã được Bộ Y tế Ecuado chấp thuận cho bán trên thị trường để điều trị cho cả các BN ĐTĐ týp 1 và týp 2.

Insulin tấm dán

Ý tưởng sản xuất tấm dán insulin xuất phát từ suy nghĩ của một số nhà nghiên cứu là nếu đã có tấm dán nicotine giúp mọi người bỏ thuốc lá thì tại sao lại không có tấm dán insulin tương tự như vậy. Tuy nhiên các phân tử nicotine có kích thước bé nên có thể được hấp thu dễ dàng qua da còn phân tử insulin to hơn nên không dễ được hấp thu, để khắc phục trở ngại này, các nhà nghiên cứu đã cố gắng phát triển các phương pháp giúp insulin ngấm qua da tốt hơn, ví dụ như sử dụng siêu âm hoặc dòng điện, hoặc những hóa chất để đưa insulin đi qua da.

Nguồn: daithaoduong.net